1. Sàng lọc trước sinh
Sàng lọc trước sinh là một thuật ngữ chung bao gồm nhiều phương pháp và xét nghiệm được thực hiện trong thai kỳ, chẳng hạn như siêu âm và phân tích mẫu máu hoặc mô, giúp bác sĩ phát hiện các gen bẩm sinh có thể gây ra bất thường về di truyền ở thai nhi? hoặc bất thường nhiễm sắc thể nào, khiến thai nhi có nguy cơ bị dị tật. Từ đó có biện pháp can thiệp, điều trị kịp thời, hạn chế hậu quả nghiêm trọng do dị tật bẩm sinh gây ra, giảm thiểu số người khuyết tật chậm phát tật triển trí tuệ trong cộng đồng,. góp phần nâng cao chất lượng dân số . Khác với sàng lọc trước sinh sàng lọc sơ sinh được thực hiện ngay sau khi đứa bé được sinh ra xét nghiệm mẫu máu gót chân Một số phương pháp sàng lọc sơ sinh thường được áp dụng là: xét nghiệm các bệnh rối loạn chuyển hóa, thăm dò kiểm tra hình thể, giúp chẩn đoán xác định những rối loạn bẩm sinh và di truyền, ví dụ: thiếu enzym G6PD, suy giáp bẩm sinh, tăng sản tuyến thượng thận,.
- Các đối tượng nên sàng lọc trước sinh:Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,tất cả phụ nữ mang thai đều nằm trong danh sách cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh, đặc biệt là các đối tượng mẹ bàu sau đây:
*Mẹ bầu là người có sức khỏe yếu đã từng phải đối mặt với thai chết lưu và sảy thai nhưng không rõ nguyên nhân;
*Có tâm trạng căng thẳng thường xuyên do làm việc trong môi trường hóa chất độc hại, sử dụng nhiều chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá;
*Trong 3 tháng đầu của thai kỳ mắc các bệnh cảm cúm, sởi, thủy đậu, quai bị và rubella;
*Bà bàu tiền sử có con bị dị tật bẩm sinh và các rối loạn di truyền :bệnh Down.
*Gia đình có người thân mắc các dị tật bẩm sinh.
*Bà mẹ thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, tia xạ..
*Thai phụ lớn tuổi (> 35 uổi ).
- Các thời điểm sàng lọc trước sinh: có 3 mốc quan trọng
Ba lần sàng lọc trước sinh chính là 3 mốc quan trọng trong thai kỳ
- Sàng lọc trước sinh lần 1 từ tuần 11 – 14 (quý 1)Thời điểm này có thể sàng lọc bằng xét nghiệm NIPT, Double test, đo độ mờ da gáy, choc ối sinh thiết nhau thai và siêu âm thông thường.Quý 1 sàng lọc trước sinh có thể phát hiện các bất thường liên quan tới đột biến số lượng, NST,cấu trúc vật chất cuả NST mang tính di truyền của phôi thai. Ngoài ra những dị tật nghiêm trọng như thai vô sọ, thiếu mầm chi,…cũng có thể phát hiện trong thời gian này.
Quý 1 này sàng lọc trước sinh có thể phát hiện các bất thường liên quan tới đột biến số lượng, NS,T-cấu trúc vật chất di truyền của phôi thai. Các đột biến trong cấu trúc của DNA như:đột biến điểm, đột biến mất đoạn…..
- Sàng lọc trước sinh lần 2 (quý 2) tuần 13 –
thực hiện từ tuần thứ 13 đến tuần thứ 22 của thai kỳ, trong đó thời điểm tốt nhất là từ tuần 14 – 16 của thai kỳ. Sàng lọc ở thời điểm này với mục đích tầm soát các khuyết tật ống thần kinh như dị tật tật nứt đốt sống và các rối loạn nhiễm sắc thể như hội chứng Down và trisomy XXX- hội chứng Turne,thường gây sảy thai do thiếu NSTX
- Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh: có thể chia làm hai loại:
- Các xét nghiệm không xâm lấn bao gồm : siêu âm, double test, trible test,
– Siêu âm: Thường thì kết quả kiểm tra độ mờ da gáy rộng hơn bình ở những trường hợp có biểu hiện nghi ngờ dị tật Độ mờ da gáy (ĐMDG) chính là khoảng tích tụ dịch dưới da và ở vùng sau gáy của thai nhi. Dựa vào chỉ số ĐMDG, các bác sĩ có thể giúp bdự chẩn đoán được 75%trẻ có nguy cơ nguy cơ mắc hội chứng Down và các dị tật bẩm sinh khác.
ĐMDG này sẽ tăng cao bất thường trong trường hợp nguy cơ dị tật bẩm sinh Độ mờ da gáy (ĐMDG) chính là khoảng tích tụ dịch dưới da và ở vùng sau gáy của thai nhi. Dựa vào chỉ số ĐMDG,bất thường các bác sĩ có thể dự đoán được 75% nguy cơ trẻ bị hội chứng :Down và một số dị tật bẩm sinh.
Tùy theo tuần tuổi sẽ có kích thước độ mờ da gáy như sau: 2mm đối với thai nhi 11 tuần tuổi. Dưới 2,5mm đối với thai nhi 12 tuần tuổi.; Chỉ số ĐMDG thông thường là dưới 3,5mm đối với trẻ có kích thước 4,5-8.4mm. Đối với thai nhi 11 tuần tuổi, độ mờ da gáy chuẩn là 2mm. Đối với thai nhi 12 tuần tuổi, thường độ mờ da gáy chuẩn là dưới 2,5mm. Đối với thai nhi 13 tu4n tuổi, độ mờ da gáy chuẩn là 2,8mm.
.-Sàng lọc NIPT (non-invasive prenatal test) – Đây là xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn là được thực hiện từ tuần thứ 10 của thai kỳ, dựa trên phân tích các đoạn ADN tự do (cfDNA) của thai nhi chuyển động tự do trong máu của mẹ bầu để phát hiện các bất thường về số lượng nhiễm sắc thể gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi) – Xét nghiệm NIPT không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ và thai nhi kể cả trước và sau sinh.
Xét nghiệm NIPT phân tích các đoạn DNA nhỏ đang lưu hành trong máu của một phụ nữ mang thai. trôi nổi tự do và không nằm trong các tế bào, và do đó được gọi là DNA tự do (cfDNA). Những mảnh nhỏ này thường chứa ít hơn 200 cặp nu được sinh ra khi các tế bào chết đi và bị phá vỡ và thành phần bên trong của chúng, bao gồm cả DNA, được giải phóng vào máu.
Khi mang thai, dòng máu mẹ có chứa hỗn hợp cfDNA đến từ tế bào của mẹ và tế bào từ nhau thai. . Phân tích cfDNA từ nhau thai cung cấp cơ hội phát hiện sớm các bất thường di truyền nhất định mà không gây hại cho thai nhi. thường được thực hiện để tìm kiếm các bất thường về số lượng nhiễm sắc thể do thiếu hoặc thừa một bản sao của nhiễm sắc thể. Các bất thường nhiễm sắc thể thường được sàng lọc bởi xét nghiệm NIPT bao gồm:
- Hội chứng Down (trisomy 21, xảy ra khi bệnh nhân bị thừa một nhiễm sắc thể số 21)
- Hội Edwchứng Edwards (trisomy 18), xảy ra khi bệnh nhân bị thừa một nhiễm sắc thể số 18 trong bộ nhiễm sắc thể. Hội chứng này xuất hiện với tỉ lệ khoảng 1:4000 đến 1:8000 trẻ sơ sinh. Đây là hội chứng phổ biến thứ ba chỉ sau hội chứng Down và hội chứng DiGeorge. Hội chứng Edwards có ảnh hưởng đến việc em bé có thể sống sót được bao lâu, hầu hết trẻ sơ sinh mắc hội chứng Edwards sẽ chết trước hoặc ngay sau khi được sinh ra. Chỉ khoảng 5 – 10% trẻ sinh ra có thể sống hơn một năm tuổi.
- Hội chứng này xuất hiện với tỉ lệ khoảng 1:4000 đến 1:8000 trẻ sơ sinh. Đây là hội chứng phổ biến thứ ba chỉ sau Hội chứng Edwards có ảnh hưởng đến việc em bé có thể sống sót được bao lâu, Chỉ khoảng 5 – 10% trẻ sinh ra có thể sống hơn một năm tuổi.
- Hội Chứng Patau *(Trisomy 13) (do thừa một nhiễm sắc thể 13) là, là một tình trạng hiếm gặp do lỗi di truyền trên nhiễm sắc thể số 13. Rối loạn này xảy ra ở khoảng 1/16.000 trẻ sinh ra sống và bé gái thường hay bị ảnh hưởng hơn bé trai. Rối loạn này gây ra các vấn đề nghiêm trọng về trí tuệ và thể chất trên hầu hết các trẻ sơ sinh.
- Các bất thường về nhiễm sắc thể giới tính.hội chứng siêu nữ thừa NST X
- Xét nghiệm NIPT là công cụ sàng lọc trước sinh có độ tin cậy cao giúp đánh giá nguy cơ rối loạn số lượng nhiễm sắc thể ở thai nhi.
- Xét nghiệm này cũng có thể cung cấp thông tin về giới tính của thai
- Hiện tại, xét nghiệm NIPT không được hưởng bảo hiểm
- Nếu sản phụ không muốn làm xét nghiệm NIPTthì có thể thực hiện siêu âm double test và trible test.
4.1.3 Xét nghiệm Double test
Xét nghiệm Double test nhằm mục đích sàng lọc nguy cơ xuất hiện các dị tật mang tính di truyền ở thai nhi như hội chứng Down (trisomy 21thừa NST21 Edwards (Trisomy 18) và hội chứng Patau thừa NST13(Trisomy 13). Xét nghiệm Double test được thực hiện ở phụ nữ mang thai tuần thứ 12, tức là ngay trong quý thứ nhất của thai kỳ. Xét nghiệm Double test bao gồm xét nghiệm định lượng nồng độ β-hCG tự do và PAPP-A(pregnancy associated plasma prote vì nồng độ β-hCG tự do và PAPP-A thay đổi trong suốt thai kỳ.
β-hCG tự do là thành phần trong cấu trúc của hormone hCG. hCG đầu tiên được các tế bào lá nuôi của trứng đã được thụ tinh tiết ra, sau đó do nhau thai bài tiết. hCG có mặt trong huyết thanh của người mẹ vào khoảng ngày thứ 6 đến ngày thứ 8 sau khi trứng được thụ tinh và đạt tới nồng độ cao nhất sau từ 50 đến 80 ngày.
PAPP-A<pregnancy associated plasmaprotein A là glucoprotein được tiết từ nhau thai, nồng độ PAPP-A bình thường tăng theo tuổi thai.Ở hội chứng Down nồng độ PAPP-A giảm hơn bình thường.
Kết quả xét nghiệm Double test. Kết quả xét nghiệm Double test được tính kếthợp các thông số β-hCG tự do và PAPP-A trong máu thai phụ với hiệu chỉnh đều bằng 1 MoM. dựa theo phần mềm đặc hiệu. kết hợp với kết quả siêu âm độ mờ da gáy (NT), chiều dài đầu – mông (CRL) của thai nhi.
4.1.3 Xét nghiệm Trible test , Trible test hay còn gọi xét nghiệm bộ ba là xét nghiệm sàng lọc dị tật thai nhi thông qua việc kiểm tra và định lượng nồng độ 3 chất trong máu mẹ do thai nhi tiết ra bao gồm: AFP, uE3 (Unconjugated Estriol)và β-hCG, kết quả xét nghiệm sẽ giúp bác sĩ chẩn đoán xem thai nhi có mắc phải hội chứng Down (thừa NST 21), hội chứng Trisomy 18 (thừa NST18).
4,2. . Các xét nghiệm xâm lấn:Chọc ối thực hiện khi thai >16 tuần để kiểm tra chắc chắn nnhững rối loạn di truyền.Trong nước ối có chứa một số tế bào được bong ra từ da em bé, xét nghiệm các tế bào này có thể phát hiện ra các dị tật thai nhi do các bất thường về di truyền, trong đó có hội chứng Down .Chọc ối cũng có thể thực hiện vào 3 tháng cuối thai kỳ trong các trường hợp cần xác định độ trưởng thành của thai nhi khi cần chấm dứt thai kỳ do các bệnh lý như tiền sản giật hoặc được thực hiện để chẩn đoán nhiễm trùng ối.
Trong lần xét nghiệm này người mẹ cũng cần được chẩn đoán xem có mắc các bệnh như giang mai, viêm gan B hoặc HIV hay không.?
- Sàng lọc sơ sinh Khác với sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh được thực hiện ngay sau khi đứa bé được sinh ra xét nghiệm mẫu máu gót chânCác phương pháp sàng lọc sơ sinh thường được áp dụng làcác xét nghiệm hóa sinh: xét nghiệm các bệnh rối loạn chuyển hóa, thăm dò kiểm tra hình thể, giúp chẩn đoán xác định những rối loạn bẩm sinh và di truyền, ví dụ: thiếu enzym G6PD, suy giáp bẩm sinh, tăng sản tuyến thượng thận,
- Kết luận Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,tất cả phụ nữ mang thai cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh, đặc biệt là các đối tượng mẹ lớn tuổi>35tuoi, có tiền sử thai lưu hoặc trong gia đình có dị tật bẩm sinh.Sàng lọc trước sinh giúp các bà mẹ yên tâm chào đón em bé.Đối với xã hội: hạn chế hậu quả nghiêm trọng do dị tật bẩm sinh gây ra, giảm thiểu số người khuyết tật chậm phát triển trí tuệ trong cộng đồng,. góp phần nâng cao chất lượng dân số./.


Bài viết liên quan
Chuyên đề 8. Hóa sinh các bệnh đường tiêu hóa
Chuyên đề 7 Hóa sinh lâm sàng bệnh gan
Chuyên đề 6. Sự hình thành bilirubin và các loại vàng da
Chuyên đề 5. Hóa sinh bệnh tim mạch
Chuyên đề 4. Chuyển hóa lipoprotein, các xét nghiệm lipid và lipoprotein
Chuyên đề 3: Lipoprotein và các loại rối loạn lipid máu